Giải nghĩa ca dao tục ngữ – Vần C

1. Cá không ăn muối cá ươn

Con cưỡng cha mẹ trăm đường con hư: Ướp cá cho khỏi thiu thối, ươn, oai, người ta ướp với muối. Nếu con cá nào không chịu ăn muối (để muối sát ngâm vào mình) thì con cá ấy sẽ ươn, sẽ thối. Kẻ làm con cưỡng lại cha mẹ, không nghe lời cha mẹ hóa ra hư hỏng như con cá không ăn muối vậy. Câu này lấy con cá làm thí dụ để khuyên những kẻ làm con phải vâng lời cha mẹ.

2. Cá lớn nuốt cá bé: Cũng là loài cá mà con cá lớn nuốt con cá bé để sống. Câu này lấy cá làm thí dụ để ngụ ý nói: cùng là loài người mà người mạnh ăn hiếp kẻ yếu, người không lường gạt người ngu, than phiền cho nhân tình thế thái.

3. Cá mè một lứa: Tức là một lứa cá mè, cá mè cùng một loại, một lứa mới nở ra, dùng để thả cá giống, không con nào lớn hơn con nào, cứ nhàng nhàng nhơ nhỡ như nhau một loạt. Người ta thường dùng câu này để nói người trên, người dưới, không giữ lẽ tôn ti trật tự mà cư xử với nhau, lại coi trên dưới bằng nhau như một lứa cá mè, không ai bảo được ai nữa.

4. Cá nằm trốc thớt: Mổ cá, người ta để cá lên thớt. Cá nằm trốc thớt là cá sắp bị mổ thịt. Người ta thường mượn câu này để nói lên cảnh nguy hiểm, chưa biết sống chết lúc nào.

5. Cá vàng bụng bọ: Cá vàng bề ngoài coi rất đẹp, nhưng cá vàng chuyên môn ăn bọ gậy. Người ta chê bụng dạ nó vì trong bụng nó toàn là bọ.

Câu này thường dùng để chê người bề ngoài coi tốt đẹp mà bề trong bụng dạ bẩn thỉu, xấu xa; ý nghĩa cũng gần giống câu “ tốt mã dẻ cùi”.

6. Cà cuống chết đến đít còn cay: Con cà cuống vốn có bọng cay nên chết đít nó cũng vẫn còn cay như thường.

Người ta dùng câu này để nói người liều lĩnh, bướng bỉnh, táo bạo, đến lúc sắp chết cũng vẫn cứ liều lĩnh, bướng bỉnh, táo bạo, không sợ.

7. Cả vú lấp miệng em: Cả vú là vú to. Em là em bé tức là trẻ thơ.

Cả vú lấp miệng em nghĩa đen là lấy cái vú to của mình (người mẹ) ấn vào miệng con thơ để nó khỏi khóc quấy. Nghĩa bóng câu này thường có nghĩa là cậy thần thế to ăn hiếp người ta, không cho người ta mở miệng kêu ca nữa.

8. Cách sông mới phải lụy đò: Vì có phải ở cách sông thì mới phải phiền lụy đến lái đò chở giúp sang sông. Nếu không, thì cần gì phải lụy lái đò. Lụy là phiền lụy, qui lụy, hạ mình, chịu nhún.

Câu này thường mượn để nói vì lẽ này, lẽ khác, việc lọ việc kia bất đắc dĩ mới phải qụy lụy nhau, không dưng thì chả ai phải lụy ai cả.

9. Cái khó bó cái khôn: Người ta vốn suy nghĩ sáng suốt, thủy trung, nhưng vì không có tiền, vì nghèo mà cái khôn ngoan bị bó thắt lại, không thi thố ra được; câu này đại ý nói vì nghèo nên không thể khôn ngoan.

10. Cái sẩy nẩy cái ung: Cái sẩy tức là nốt rôm; sẩy là nốt nho nhỏ mọc trên da thịt… Cái sẩy tuy bé vậy, song nếu không khéo lăm nó lặn đi, và để vi trùng lọt vào thì cái sẩy có thể nẩy thành cái nguy hiểm. Việc đời cũng vậy, không khéo dàn xếp ổn thỏa thì việc bé có thể xé thành việc to, có hại.

11. Cái tóc cái tội: Theo đạo Phật, làm thương tổn đến cầm thú, cỏ cây, côn trùng đều phải tội cả, vì những loài ấy cũng đều như người ta do Trời sinh ra. Theo quan niệm đó thì con người ta làm nên lắm tội lắm, số tội nhiều bằng số tóc trên đầu.

12. Cái trước đau cái sau rái: Cái trước đau tức là cái bước trước ngã đau hoặc cái việc trước thất bại nặng.

Cái sau rái là cái sau phải giữ cẩn thận (rái nghĩa là răn, là sửa đổi) hoặc việc sau phải sửa chữa (răn) cẩn thận.

Cái trước đau cái sau rái nghĩa là nếu bước trước ngã đau, thì bước sau phải giữ gìn, nếu việc trước thất bại đau thì việc sau phải tính toán thận trọng.

Đại ý câu này khuyên người ta nên rút kinh nghiệm trước để làm việc sau. Cũng có người giảng là: lần trước bị đánh đau, thì lần sau sẽ chừa, nhưng nghe không hợp với ý câu văn.

13. Cạn ao bèo đến đất: Bèo thì suốt đời là trên mặt nước, không bao giờ chịu sống sát nơi bùn đất. Nay nước ao bị cạn sạch, thành ra bèo phải hạ xuống sát đất bùn. Câu này thường dùng để nói người quí phái thượng lưu, gặp vận sa sút, thay bậc đổi ngôi như cây bèo phải hạ xuống sát đất vậy.

14. Cạn tầu ráo máng: Tầu là cái máng, đựng cỏ đựng thóc cho ngựa hay loài vật khác ăn. Máng là cái máng hứng nước ở mái nhà rỏ xuống.

Cạn tàu ráo máng nghĩa đen là quét, lau sạch khô cả máng; nghĩa bóng là ăn ở cạn hết nhân nghĩa, xử sự một cách quyết liệt, đi đến sự lìa bỏ nhau, cự tuyệt nhau.

15. Cắn cơm không vỡ: Hột cơm vốn dẻo, ai ăn không được.

Thế mà cắn hột cơm không vỡ, thì phải là người bất tài, bất lực hết chỗ nói.

Người ta thường dùng câu này để tả hạng người vô tài, không thể làm nên việc gì.

16. Càng chửi càng rủa càng đỏ hây hây

Nâng như nâng trứng chết rầy chết mai: Càng chửi càng rủa tức là càng dạy dỗ quở mắng, thì càng đỏ hây hây tức là khoẻ mạnh béo tốt hồng hào. Vậy mà nâng như nâng trứng, tức nuông chiều quá độ, thì lại ốm yếu bệnh tật luôn luôn, có thể nay chết mai chết cũng nên. Câu này đại ý nói không nên nương chiều con cái quá, cần phải dạy dỗ đánh mắng chúng thì chúng mới nên người.

17. Cầm khoán bẻ măng: Khoán là khoán ước, khoán lệ tức là giấy tờ định việc cấm đoán và trừng trị, bắt vạ những vụ phạm vào cấm lệ. Ngày xưa trong làng xã, để bảo vệ tre-pheo, người ta thường đặt khoán lệ cấm bẻ măng tre. Vậy mà kẻ có quyền thế như ông Lý, ông xã cầm khoán lệ ấy mà lại thường tự tiện bẻ măng, tự tiện phạm vào cấm lệ.

Câu này chê người định ra luật lệ mà lại không tuân theo luật lệ, lời nói và việc làm trái ngược nhau.

18. Cẩn tắc vô ưu: Cẩn thận thì không phải lo lắng. Câu này khuyên người ta:

a) Cất giữ kín đáo thì không lo mất của.

b) Đề phòng cẩn thận thì không lo sẩy ra những sự không may bất ngờ.

c) Thận trọng làm việc thì không lo việc hỏng.

d) Làm việc chu đáo kỹ càng thì không lo không có kết quả. Ý câu này rất đúng. Ở đời những sự thua thiệt thất bại, lầm lỡ, đều do sự cẩu thả trong ý nghĩ và trong việc làm mà ra.

19. Cao không tới thấp không thông: Cao thì không với tới, mà hạ mình xuống thấp thì coi không được. Câu này thường dùng để tả nỗi khó sử của hạng người thường thường bực trung, cao hẳn thì không cao hẳn, mà thấp hèn thì không thấp hèn, hẳn thành ra mọi việc ở đời nhiều lúc không biết nên làm như thế nào cho phải. Làm theo người giàu sang quyền quí thì không làm nổi, mà xử theo bọn bần cùng khố dây thì lại không coi được.

20. Cát bay vàng lại ra vàng

Những người quân tử dạ càng đinh ninh: Gặp cơn gió bụi, vàng bị cát phủ kín lên. Sau nhờ cơn gió khác, cát bay đi hết, vàng lại hoàn ra vàng. Người quân tử, tức là người có đạo đức, khí tiết, gặp cơn gió bụi (tức là thời loạn) dù có bị cát bụi phủ lên danh thơm tiếng tốt của mình, song người quân tử vẫn đinh ninh trong dạ rằng: cát bụi bay đi vàng lại hoàn vàng, danh tiếng của mình lại vẫn trong sạch nguyên vẹn.

21. Cây thẳng bóng ngay, cây nghiêng đóng vạy: Ngay là thẳng, không cong. Vạy là cong là không thẳng. Cây thẳng bóng ngay là cây thẳng thì bóng cũng thẳng.

Cây nghiêng bóng vạy là cây không thẳng thì bóng cũng cong.

Câu này lấy cây với bóng làm thí dụ, có ý khuyên người trên, như cha mẹ, anh chị trong nhà, đàn anh, đàn chị trong làng, các vị quyền quí trong nước, nên ăn ở ngay thẳng, để người dưới theo. Người trên ví như cây nên (tiêu biểu), người dưới ví như cái bóng. Cây không thẳng thì bóng cũng cong queo, người trên ăn ở không chính đính, thì người dưới cũng sẽ ăn ở bậy bạ.

22. Có anh có chị mới hay

Không anh không chị như cây một mình: Người ta ở đời có anh có chị thì khi hoạn nạn, những lúc bần cùng, có người này giúp, người kia cứu, gió bão khó lung lay; người không có anh, chị thì cũng giống như cây mọc một mình, gió bão tha hồ lay chuyển, gặp lúc hoạn nạn khốn cùng không ai che chở, bao bọc cho.

23. Có ăn có chọi mới gọi là trâu: Con trâu tốt là con trâu ăn khoẻ, làm khoẻ, và chọi khoẻ (vùng Đồ Sơn có hội chọi trâu, trâu tốt phải là trâu biết chọi). Câu này mượn chuyện con trâu để ngụ ý khuyên ta: đã biết ăn thì phải biết vật lộn tranh đấu với đời.

24. Có bát sứ tình phụ bát đàn: Bát đàn là bát nặn bằng sành tráng men, coi thô xấu hơn bát sứ nhiều. Bát sứ là bát nặn bằng đất sét trắng, tráng men tàu, coi nhẹ nhàng, thanh nhã.

Có bát sứ tình phụ bát đàn là có bát đẹp bỏ quên bát xấu.

Người ta thường mượn câu này để chê người ăn ở không có thủy chung, có mới thì nới cũ, tham danh chuộng lạ quên cả nghĩa cũ tình xưa.

25. Có cá đổ vạ cho cơm: Đổ vạ là đổ tội vạ, gán cho cái tội vạ ở ngoài đưa đến.

Có cá đổ vạ cho cơm là không muốn ăn cơm là vì không có cá (tức là không có thức ăn ngon), nay đã có cá (tức là thức ăn ngon) mà vẫn không chịu ăn cơm; lại đổ vạ cho cơm là rắn (cứng).

26. Có cấy có trông, có trồng có ăn: Có cây lúa thì hy vọng (trông) có thóc ăn, có trồng cây thì rồi có quả ăn.

Đại ý câu này nói: hễ chịu khó làm việc thì tự khắc có kết quả.

27. Có cha bẻ đùi gà cho con: Bẻ đùi gà cho con tức là lấy phần cho con.

Có cha bẻ đùi gà cho con nghĩa là có cha thì được cha lấy phần cho, ý nói có cha thì con được nhờ vả.

28. Có cha có mẹ thì hơn, không cha không mẹ như đờn đứt dây: Đờn có dây thì mới gảy được và mới ra cái đờn. Đờn đứt dây thì không gảy được và không ra cái đờn.

Con người ta không có cha mẹ tức là người mồ côi thì cũng giống như cái đờn đứt dây.

Câu này áp dụng riêng với những con cái còn thơ và ý nghĩa rất đúng. Vì con cái còn nhỏ mà mồ côi cha mẹ thì khốn khổ trăm đường, thường thường cầu bơ cầu bất, dù có được ông cha bà chú nuôi nấng thì cũng phải hành hạ tủi nhục nhiều điều. Thật giống như đờn đứt dây, đờn đứt dây chẳng gảy được và chẳng ra cái đờn; con cái mồ côi không được hưởng sự vui sướng làm con, không còn ra con mẹ con cha nữa.

29. Có chí làm quan có gan làm giàu: Chí tức là ý chí, sự quyết tâm làm kỳ được một việc gì; gan tức là cam đảm, sự táo bạo liều lĩnh làm một việc gì, không kể thành hay bại, lợi hay hại. Người có cái chí như vậy thì có thể trở nên quan sang, người có gan như vậy thì có thể trở nên giàu có.

Đại ý câu này muốn nói người ta giàu, sang là do sự gắng sức của mình, chứ không phải tự mồ mả, đất cát hay số mệnh.

30. Có con phải khó vì con, lấy chồng gánh vác giang sơn nhà chồng: Có con thì phải khó nhọc vì con, nuôi nó, khi nó sài đẹn phải chữa chạy cho nó, lo cho nó đi học, dựng vợ gả chồng, làm nhà cửa cho nó… lấy chồng thì phải lo liệu việc nhà chồng, món đóng món góp, làm giỗ làm tết, trả công trả nợ cho chồng, tức là gánh vác giang sơn nhà chồng. Giang sơn nghĩ a là sông núi, đây là cơ nghiệp.

Câu này nói gồm bổn phận làm mẹ, làm vợ của người đàn bà Á Đông và riêng nước ta.

31. Có con tội sống, không con tội chết: Có con trai, nếu nó làm những việc tồi tệ, cha mẹ phải lo lắng vì bị liên lụy, như vậy là có tội lúc còn sống; không có con trai thì lúc chết, không có người chống gậy và lo việc ma chay như thế là tội lúc chết. Câu này tỏ ý than phiền về đứa con hư.

32. Có cô thì chợ cũng đông, cô đi lấy chồng thì chợ cũng vui: Có cô đi chợ thì chợ cũng đông thêm một người, nhưng từ khi cô đi lấy chồng, không đi chợ nữa thì chợ cũng vẫn cứ vui như trước.

Câu này đại ý nói đối với toàn thể nhân loại hay xã hội, thì sự còn, mất, thiếu, đủ một người (cá nhân) không có ảnh hưởng gì.

33. Có da lông mọc: Hễ chỗ nào có da tức thì là có lông mọc. Đó là một sự thật hiển nhiên. Vì bất luận da người hay da loài vật, trên mặt da đều có lỗ chân lông. Câu này đại ý nói hễ có căn bản thì ngành ngọn có thể mở mang, hễ có gốc thì tự khắc có ngọn. Người ta thường dùng câu này để an ủi những người đẻ con bé nhỏ quá, ngụ ý bảo rằng: “hễ có da thì có lông, hễ có đầu có đuôi thì nuôi lâu cũng lớn”.

34. Có dại mới lên khôn: Người ta ai cũng muốn khôn. Nhưng muốn khôn tất phải có lần mắc dại. Mắc dại lần này, thì sau mới biết đường mà sửa chữa cái lầm lẫn, tránh khỏi những mánh khoé lường gạt của người, và như thế mới trở nên khôn được. Nhưng nếu không biết rút kinh nghiệm những lần trót dại, để lần sau tránh đi, thì dại vẫn hoàn dại.

35. Có đắt hàng tôi, mới trôi hàng bà: Câu này có thể có hai nghĩa:

a. Người bán buôn và bán lẻ một thứ hàng; Người bán lẻ có bán chạy hàng thì người bán buôn mới bán trôi (suông sẻ) hàng đi được. Vì có đắt hàng, thì người bán lẻ mới cất hàng bán.

b. Hai người buôn bán thứ hàng khác nhau, thí dụ như người bán gạo và người bán vải. Người bán gạo ế hàng thì người bán vải cũng không bán trôi hàng. Vì người làm ruộng không có tiền sắm sửa vải vóc.

Dù hiểu theo nghĩa nào thì câu này cũng cho ta thấy cái ảnh hưởng liên quan và qua lại (tương hỗ) giữa các hàng hóa trong thị trường thương mại, kinh tế. Hễ việc buôn bán thịnh vượng, thứ hàng này chạy thì thứ hàng khác cũng chạy; hễ việc buôn bán đình trệ, thứ hàng này ế thì các thứ hàng khác cũng không chạy.

36. Có đi có lại mới toại lòng nhau: Đi là đi đến thăm hỏi, gặp gỡ với ai.

Lại là đến thăm hỏi chơi bời để đáp lại sự người ta đến thăm hỏi mình.

Toại lòng là làm vui lòng, đẹp lòng, bằng lòng.

Có đi có lại mới toại lòng nhau là người ta thăm hỏi mình, biếu sén mình, mình có hỏi thăm, biếu sén trả lại, thì hai bên mới đẹp lòng, người nọ mới không chê trách người kia là bủn sỉn, là kiêu kỳ hoặc bất lịch sự. Câu này nêu một nguyên tắc xã giao.

37. Có đi mới đến, có học mới hay: Có đi mới đến nghĩa là muốn đến nơi nào thì phải bước chân đi. Cứ ngồi một chỗ thì muốn đến nơi thật gần cũng không bao giờ đến nơi.

Có học mới hay nghĩa là có học mới biết. Không chịu học thì điều rất xoàng, rất dễ cũng không bao giờ biết được.

Câu này lấy sự đi đường để đến nơi nào làm thí dụ; khuyên ta nên học, có học thì muốn biết điều gì mới biết được.

38. Có gan ăn cướp có gan chịu đòn: Đi ăn cướp mà người ta bắt được, tất nhiên là bị đánh đòn. Người đi ăn cướp biết trước như vậy, mà vẫn đi ăn cướp; có gan đi ăn cướp như thế là đã có gan chịu đòn rồi. Nghĩa bóng câu này muốn nói người ta đã dám làm việc gì, là sẵn sàng chịu trách nhiệm là lượm kết quả về việc ấy.

39. Có hoa mừng hoa, có nụ mừng nụ: Trồng cây khi có nẩy ra được cái nụ thì mừng cây đã ra nụ, khi nó nở được một bông hoa thì mừng cây đã ra hoa, vì đó là cái kết quả công việc mình làm. Câu này thường dùng để nói: có con trai cũng mừng, có con gái cũng mừng, đỗ cao cũng mừng, đỗ thấp cũng mừng, được thế nào bằng lòng thế ấy, miễn có kết quả là quí rồi.

40. Có lớn mà chẳng có khôn: Người thì lớn tuổi mà chí khôn không lớn.

Lẽ ra người ta mỗi ngày một thêm kinh nghiệm. Đàng này lớn tuổi mà không khôn, đó là một trường hợp khác thường. Người ta thường dùng câu này để nói nhún với người ngoài rằng, dù con mình đã lớn nhưng còn dại lắm.

41. Có má ở nhà có cá mà ăn: tiếng miền Nam nghĩa là mẹ. Có cá mà ăn nghĩa là có thức ăn ngon. Cả câu nghĩa là: có mẹ ở nhà thì con mới được ăn miếng ngon. Đại ý câu này muốn nói con có cha mẹ thì mới được sung sướng, mồ côi cha mẹ thì khốn khổ trăm phần.

42. Có mặt ông Sứ, vắng mặt thằng Ngô: Ông Sứ đây trỏ ông Sứ Thần (hay sứ giả) người Tàu thường sang nước ta, thời xưa. Có mặt thì tỏ vẻ kính trọng ông Sứ Thần là ông Sứ, khi không có mặt ông ta thì gọi là thằng Ngô (tức là người Tàu). Câu này đại ý con người ăn ở lấy mặt, không có bụng trung thực.

43. Có mới nới cũ: Có cái mới, thì cởi bỏ cái cũ ra, ý nói tham danh chuộng lạ, ăn ở không có thủy chung.

Câu này bỏ lửng ý ở giữa chừng, cả câu như thế này thì mới trọn nghĩa: “Có mới thì nới cũ ra, mới để trong nhà cũ để ngoài sân”.

Câu này chê người ăn ở có trước không sau.

44. Có nhân nhân mọc, không nhân nhân trầm: Có nhân là có lòng tử tế, không có nhân là ăn ở độc ác. Nhân mọc là hột mọc thành cây; nhân trầm là hột trầm đi, không mọc thành cây.

Có nhân nhân mọc là ăn ở tốt lại gặp sự tốt, cũng ví như cái hột nhân đức nó mọc thành cây. – Không nhân nhân trầm là ăn ở độc ác thì không gặp được điều tử tế, cũng như cái hột nhân đức trầm đi không mọc thành cây.

Đại ý câu này muốn nói: ở hiền thì gặp lành, ở ác thì gặp ác.

45. Có phúc đẻ con biết lội, có tội đẻ con biết trèo: Biết bơi biết lội thì gặp sông, nước khỏi lo chết được. Cho nên đẻ con biết lội người ta cho là cái phúc, cái may. Biết trèo cây thì hay bị ngã vỡ mày vỡ mặt hay què chân gẫy tay, nên người ta cho đã có con biết trèo là một cái tội.

Câu này khuyên trẻ con không nên trèo cây mà bị ngã.

46. Có phúc thì có phần: Phúc là phúc mệnh, tức là phúc phận, nghĩa là cái phần giàu sang sung sướng mình được hưởng. Có phúc thì có phần nghĩa là có số tốt thì được hưởng sự sung sướng.

Cũng có thể giảng phúc nghĩa là ảnh hưởng những việc hay, lành ông cha đã làm ngày xưa, đối với đời sống của con cháu. Có phần là có phần sung sướng trời dành sẵn cho, cũng như phần xôi thịt để dành riêng cho người được hưởng, trong những cuộc ăn uống việc làng.

Đại ý câu này an ủi và khuyên người ta không nên kèn cựa lo lắng cho nhọc lòng, cứ yên trí đợi, hễ mình có phúc là tự nhiên được hưởng sung sướng. Trái lại nếu không có phúc thì lo lắng, kèn cựa bao nhiêu cũng vô ích mà thôi.

47. Có sừng có mỏ thì gõ với nhau: Giống thú (vật bốn chân) nhiều loại có sừng như: trâu, bò, hươu, nai… Giống cầm (vật có cánh) loại nào có mỏ; sừng là khí giới tự vệ và đấu tranh của giống thú. Mỏ là khí giới tự vệ và đấu tranh của giống cầm.

đây nghĩa là đánh kêu thành tiếng. Có sừng có mỏ thì gõ với nhau, nghĩa là có sừng thì lấy sừng chọi sừng, có mỏ thì lấy mỏ chọi mỏ, dùng khí giới sẵn có mà đấu tranh với nhau. Câu này khuyên người ta có tài năng, có sức mạnh nên ra mà ganh đua với nhau. Và gián tiếp bảo người không có khí giới thì nên ngồi yên.

48. Có răng, răng nhai, không răng lợi mài cũng xong: Người ta thường dùng câu này để nói đại khái rằng: có người thì làm việc đỡ bận, nhược bằng không có người thì tự mình làm lấy, công việc có chậm một chút, nhưng rồi cũng xong.

Đại ý câu này phủ nhận (không nhận) hay đánh giá thấp cái công lao của người giúp việc mình.

49. Có rế đỡ nóng tay: Rế là thứ đồ đan dùng để lót nồi, để nồi khỏi để bệt xuống đất chóng hư và để khi nồi bắt ở bếp ra, người ta bưng vào để trên rế thì bao giờ cũng đỡ nóng tay.

Câu này thường dùng để ngụ ý nói có người giúp việc thì đỡ bận cho mình, mặc dầu không có người giúp đỡ thì cũng không sao, chỉ khó nhọc thêm một chút. Đại ý câu này khuyên người ta không nên bỏ phí người, trái lại nên dùng người để mình đỡ khó nhọc.

50. Có tật giật mình: Tật đây không phải là bệnh tật. Tật đây là thói xấu, nết xấu.

Có tật giật mình là khi mình có tật xấu gì, nghe người ta nói đến tật xấu ấy thì giật mình sợ hãi, hình như người ta đã rõ tật xấu của mình.

51. Có tiền mua tiên cũng được: Tiên là bà tiên, cô tiên, một hạng người đẹp cả người lẫn nết, không bao giờ chết, lúc biến lúc hiện do trí tưởng tượng người ta hình dung ra. Tiên là một hạng người không có thực, vậy có tiền cũng không thể mua.

Câu này cực tả cái giá trị của đồng tiền, đại ý nói rằng có tiền thì việc khó đến đâu cũng làm được, của hiếm đến đâu cũng mua được.

Không tiền thì cái rất tầm thường nhất cũng không mua được. Có câu tục ngữ tiếp theo câu trên: “Không tiền mua lược không xong”.

52. Có tiếng không có miếng: Có tiếng là có danh tiếng to.

Không có miếng là không có miếng ăn, tức là không có nhiều tiền của.

Người ta thường mượn câu này để nói người có hư danh mà quyền hành thực tế không có gì; hoặc người có tiếng giầu sang mà thực ra bề trong vẫn nghèo túng.

53. Có thực mới vực được đạo: Thực là ăn. Vực có hai nghĩa:

a. Ôm bế nhẹ nhàng một người vóc lớn đem từ nơi này đến nơi khác. Dùng nghĩa rộng vực có thể có nghĩa là đem từ nơi này tới nơi khác tức là truyền đi, chở đi.

b. Học tập, luyện tập hay dạy bảo; nghĩa thấy trong những tiếng vực trâu, vực bò, trâu bò mới vực.

Vì chữ vực có hai nghĩa mà người ta có thể hiểu câu trên hai cách khác nhau:

a. Có ăn thì mới truyền, hoặc chở được đạo lý Thánh Hiền. Chữ Hán có câu: Văn dĩ tái đạo nghĩa là văn dùng để chở Đạo.

b. Có ăn thì mới học tập được Đạo lý. Chưa biết hiểu theo cách nào đúng hơn.

Nhưng đại ý câu này không chú trọng vào chỗ chở đạo, mà cốt nói rằng miếng ăn tức vấn đề kinh tế quan trọng hơn hết và phải được giải quyết trước hết, trước cả vấn đề Đạo lý mà xưa kia nhà Nho cho là một vấn đề hệ trọng hơn sự sống chết. Thí dụ như Tống Nho nói: “Chết đói là sự nhỏ, thất tiệc là việc to”.

54. Cóc vái Trời: Cóc ở trong hang hay ở chỗ tối tăm ẩm thấp.

Trời thì ở tít mù xanh, cách chỗ cóc rất xa. Vậy mà cóc vái trời, thì trời thế nào biết được. Câu này thường dùng để trỏviệc làm vô ích.

55. Con cá đánh ngã bát cơm: Đánh ngã là đánh đổ, đây nghĩa là ăn hết bát cơm.

Con cá đánh ngã bát cơm: Có con cá làm thức ăn, nên ăn hết được bát cơm.

Câu này đại ý nói có thức ăn ngon thì ăn được cơm, không có thức ăn ngon thì cơm bỏ ế.

56. Con có cha như nhà có nóc: Nóc che chở cho cả nhà. Cha che chở cho con. Cho nên người ta ví người cha như nóc nhà.

57. Con có nạ như thiên hạ có vua: Nạ, tiếng cổ nghĩa là Mẹ. Thiên hạ là gầm trời, đây là khắp nước. Con có mẹ thì được yên vui, thiên hạ có vua thì nhân dân được làm ăn yên ổn. Người mẹ đối với người con ví như ông vua đối với thiên hạ. Xưa thiên hạ trông mong vào ông vua thế nào, thì người con trông mong vào người mẹ như thế. Đại ý câu này muốn nói người con có mẹ thì được yên vui, sung sướng, người con mồ côi mẹ thì sống bơ vơ vất vưởng như thiên hạ loạn lạc.

58. Con dại, cái mang: Cái, tiếng cổ, nghĩa là mẹ. Con dại thì mẹ phải mang tiếng là không biết dạy con. Hoặc con cái làm nên tội lỗi thì người mẹ phải chịu trách nhiệm (theo nghĩa cổ).

59. Con đã mọc răng còn nói năng gì nữa: Vợ chồng có chê bai nhau thì chê bai và lìa bỏ nhau ngay từ lúc mới lấy nhau. Nay ăn ở với nhau, đã có con và con đã mọc răng tức là đã sõi rồi, thì còn nói chuyện chê bai nhau làm chi nữa. Đó là nghĩa đen.

Nghĩa bóng câu này muốn nói: việc gì đã rồi dù nói năng gì cũng vô ích.

60. Con đầu cháu sớm: Con đầu là con đầu lòng, con đẻ trước tiên.

Cháu sớm là cháu sớm có lần đầu.

Con đầu cháu sớm thường được cha mẹ ông bà quý báu nuông chiều, vì là con cháu mới có lần đầu tiên.

61. Con hơn cha là nhà có phúc: Nhà nào có phúc là nhà ấy con cháu học hành, làm ăn tiến bộ, giầu có hơn cha ông. Nhà nào có con không kế tiếp sự nghiệp của cha ông, mỗi ngày một kém hèn, sa sút, là nhà ấy vô phúc. Câu tục ngữ trên, khen những nhà có con cháu làm nên hơn cha ông, và khuyến miễn con cháu nên cố gắng làm hơn cha ông.

62. Con hư tại mẹ cháu hư tại bà: là hư thân mất nết.

Không ai yêu con bằng mẹ. Yêu con nên chiều chuộng con, con đòi gi cũng cho, con muốn gì được nấy, khi lớn lên nó quen thói đi. Thế là con hư tại mẹ.

Không ai yêu cháu bằng bà. Yêu cháu nên nương chiều, cháu được bà nương chiều đâm ra lồng hổng, láo, nhờn, có khi bắt bà phải làm cho mình việc này, việc khác, đòi bà phải cho mình thứ nọ thứ kia. Như thế là hư. Và cháu hư là tại bà.

Câu này đại ý khuyên ông bà cha mẹ không nên nuông chiều con cháu thái quá mà làm cho chúng nó hư thân.

63. Con không chê cha mẹ khó, chó không chê chủ nhà nghèo: Con cái không bao giờ chê cha mẹ nghèo khó mà bỏ đến ở nhà giầu sang, con chó không bao giờ chê chủ nhà nghèo mà bỏ đi, đến ở nhà giầu có.

Câu này lấy một thực trạng để tả cái tình yêu thiên nhiên ràng buộc con cái với cha mẹ, vật nuôi với chủ nhà.

64. Con nhà lính, tính nhà quan: Ngày xưa, như thời Lý, thời Trần, lính là một hạng người đáng khinh. Trừ những con nhà quan tước, quyền quí, có phẩm hàm không kể, còn thì con nhà dân đen đều phải làm lính suốt đời này sang đời khác. Trái lại, cha ông làm quan, thì con cháu đời đời nối nghiệp làm quan. Lính là hạng hèn, quan là hạng sang; quan sai lính, lính hầu quan, hai cách bực đã khác nhau một trời một vực, thì cách thức ăn ở cũng khác xa nhau. Con nhà lính không thể sinh sống, ăn ở theo cách thức, lề lối con nhà quan. Vậy mà có người vốn là con nhà lính, lại có tính nhà quan, tức là tính thích sinh sống ăn ở theo cách thức nhà quan, như thế là không biết phận mình. Câu tục ngữ ngụ ý chế diễu cái thói học đòi rởm của kẻ không biết mình, vốn là người hèn mà định làm sang, vốn là người nghèo mà định ăn ở theo kiểu cách nhà giầu.

65. Con nhà tông chẳng giống lông cũng giống cánh: Tông là tông phái là họ hàng, là dòng giống, con nhà tông là con nhà dòng dõi.

Con nhà tông chẳng giống lông cũng giống cánh nghĩa là con nhà dòng dõi thế nào cũng giống dòng dõi ấy ở cái lông hay cái cánh (ví người với chim).

Chứng minh thuyết di truyền, câu này đại ý nói con nhà dòng dõi, thế nào cũng có cái hơn người.

66. Con nhờ đức mẹ: Đức là đạo đức, phúc đức, đức hạnh, đây có nghĩa là đức độ, đức hạnh.

Con nhờ đức mẹ là người con tốt hay xấu, giỏi hay hư, làm nên hay không là nhờ ở đức hạnh người mẹ. Người mẹ có đức tốt thì con cũng sẽ có đức tốt do lẽ di truyền và do sự giáo huấn của người mẹ.

Nêu cái ảnh hưởng đạo đức của người mẹ đối với người con, câu này ngụ ý khuyên các bà mẹ nên dậy dỗ con cái cho có khuôn phép.

67. Con sâu làm dầu nồi canh: Làm dầu là làm úa héo. Con sâu làm dầu nồi canh là khi có con sâu lẫn vào rau, khi ăn canh thấy con sâu không ai ăn canh nữa. Thế là làm dầu nồi canh đi, có ý như rau bị úa héo (dầu), nên không ai buồn ăn canh.

Câu này đại ý nói một người không ra gì thì làm xấu lây xã hội. – Người ta thường nói câu này liền với câu sau: “một người làm đĩ xấu danh đàn bà”, nghĩa là chỉ một người đàn bà làm đĩ, mà tất cả đàn bà bị tiếng xấu lây.

68. Con vua vua dấu, con chúa chúa yêu: Vua là Hoàng đế, chúa tức là Vương. Đây nói vua tức là nói vua Lê, nói chúa là nói chúa Trịnh ở nước ta thuở xưa. Con vua vua dấu nghĩa là con của nhà vua thì nhà vua yêu (dấu tức là yêu dấu), con của nhà chúa thì chúa yêu, đại ý nói ai cũng yêu dấu con mình hơn con người khác. Cũng có nơi nói: con voi voi dấu, con chấu chấu yêu và giảng là con của con voi thì con voi yêu, con của con châu chấu thì con châu chấu yêu, dù voi và châu chấu khác nhau nhiều nhưng tình thương yêu con đều như nhau, không hơn không kém. Đại ý cũng như câu trên.

69. Còn nước còn tát: Hễ còn nước thì còn tát vào ruộng. Nghĩa bóng là hễ người ốm còn thoi thóp thở là còn chữa chạy đến phút cuối cùng. Hoặc nói việc đời, hễ còn có sức là còn làm mãi mãi, đến hết sức mới thôi.

70. Công cha như núi Thái Sơn, công mẹ như nước trong nguồn chảy ra: Núi Thái Sơn là quả núi cao lớn bực nhất bên Tàu, thường được gọi là “mái nhà của thế giới”. Công cha như núi Thái Sơn nghĩa là công lao của người cha to tát cao lớn như núi Thái Sơn không biết thế nào mà đo lường được.

Nước trong nguồn là nước ở chỗ dòng sông dòng suối bắt đầu rỉ ở mạch đất ra. Nước mạch tức nước nguồn chảy ri rỉ quanh năm không lúc nào ngừng, dòng nước tuy nhỏ, song nước ấy làm ra sông con, sông lớn và làm nên biển cả mênh mông.

Công mẹ như nước trong nguồn chảy ra nghĩa là công người mẹ mới con như nhỏ bé, lặt vặt, song mẹ không lúc nào ngừng công lao, nên công mẹ cũng không thể nào lường được, cũng như không ai lường được nước trong nguồn chảy ra. Câu này đề cao công ơn cha mẹ để khuyên người con nên ăn ở hiếu thảo đền trả lại công ơn ấy.

71. Công nợ trả dần, cháo húp quanh bát: Công nợ nhiều đến đâu cứ trả dần mãi cũng xong, cháo nóng đến đâu cứ húp quanh bát mãi cũng hết. Ý nói công việc cứ kiên tâm làm, đâu rồi cũng xong.

72. Cố đấm ăn xôi: Cố là cầm cố. Cố đấm là đem lưng mình cầm cố cho người ta đấm. Cố đấm ăn xôi là đem lưng cầm cố chịu đấm để lấy xôi ăn, tứclà như nói dơ lưng chịu đấm để được ăn xôi.

Câu này chê người: chịu nhục để kiếm miếng ăn; bỏ liêm sỉ để cầu lấy lợi nhỏ.

73. Cờ bạc là bác thằng bần: Cờ là đánh cờ. Ngày xưa đánh cờ ăn tiền, cũng là một lối đánh bạc. Thời vua Lê Thái Tổ, ai đánh cờ phải tội chặt một ngón tay mất một phân tiền. Bạc là đánh bạc. Thời nhà Lê đánh bạc phải chặt một ngón tay và mất ba phân tiền. Ngay bây giờ cũng là việc quốc cấm. Bác không phải là chú bác, mà nghĩa là chay là Bố như chữ Bác trong những câu: “Người tai mắt đứng trong thiên địa, ai là không bác mẹ sinh thành” (Nhị thập tứ hiếu). Hay câu ca dao khác: “Ai lên phố lạng cùng anh, tiếc công bác mẹ sinh thành ra em”. Cờ bạc là bác thằng bần. Cờ bạc là cha sinh ra anh nghèo (bần có nghĩa là nghèo), ý nói cờ bạc làm cho người ta đang giàu hóa ra nghèo. Câu này phải nói thế này mới trọn nghĩa: “Cờ bạc là bác thằng bần, ruộng vườn bán hết tra chân vào cùm”.

Đại ý nói cờ bạc làm cho mất nghiệp mà lại phải tù tội nữa, vì là việc quốc cấm.

74. Cờ đến tay ai người ấy phất: Cờ đây là tiết mao là thứ cờ tượng trưng mệnh lệnh nhà vua. Người nào được nhà vua trao cờ tiết mao cho là được nhà vua ban cho quyền thay mặt vua làm mọi việc. Do điển cố đó mà sau cờ có nghĩa là quyền hành. Cờ đến tay là quyền hành đến tay. Người ấy phất nghĩa đen là ai cầm cờ thì người ấy phất cờ. Nghĩa bóng là quyền hành vào tay ai thì người ấy sử dụng. Bây giờ mình chưa có quyền hành gì thì không làm gì hết, khi quyền hành đến tay, là tự khắc mình biết làm đủ mọi việc quan trọng to tát.

Đại ý câu này muốn nói: hễ có quyền hành địa vị, thì ai cũng biết hành động theo quyền hành địa vị mình, không phân biệt là trí với ngu, giỏi với dốt.

75. Cơm chẳng lành, canh chẳng ngọt: Lành đây là ngon lành, cơm không sống, không nát, không rắn, không khê. Ngọt đây là ngon miệng.

Cơm chẳng lành, canh chẳng ngọt là cơm và thức ăn làm không ngon miệng. Người ta thường dùng câu này để tả cảnh vợ chồng bất hòa, vì khi vợ chồng đã không ưa nhau, thì tự nhiên cơm, canh ngon lành đến đâu cũng hóa ra không ngon, cũng bị người chồng bới lông tìm vết, bẻ hành bẻ tỏi, chê thế nọ thế kia.

76. Cơm nhà chúa múa tối ngày: Ăn cơm nhà chủ rồi múa may làm sao cho tối ngày thì thôi. Ý nói thợ làm dong công (ăn công thật chứ không làm khoán) thường hay kéo dài công việc ra không chịu cố gắng làm cho chóng xong.

77. Cơm tẻ mẹ ruột: Cơm tẻ là cơm ăn hằng ngày. Ruột đây là bụng dạ. Cơm tẻ mẹ ruột nghĩa đen là cơm tẻ nuôi dưỡng bụng dạ như mẹ nuôi con. Nghĩa bóng muốn nói dù ăn cao lương mỹ vị cũng không no bụng được bằng cơm tẻ. Người ta thường mượn câu này để khuyên không nên chuộng những món xa xỉ, đắt tiền.

78. Cú có vọ mừng: Cú và vọ là hai thứ chim cùng một loài. Con cú có cái ăn thì con vọ cũng mừng cho. Vật còn thế, huống chi con người ta, thấy anh em bà con giầu có, thì mình cũng nên mừng cho, chớ không nên ghen ghét, ố nhân thắng kỷ (ghét người hơn mình).

79. Cú kêu cho ma ăn: là con cú.

Xưa người ta thường cho rằng: chỗ nào có cú kêu là chỗ ấy có ma, và nơi đó sắp xẩy ra việc chẳng lành như ốm đau hay chết chóc; Cho nên hễ nghe cú kêu là người ta vội vàng sắm sửa lễ vật để cúng tiễn những hung thần (tức là ma, quỉ đến quấy rối) để tránh tai nạn.

Thành ra cú kêu cho ma ăn, chứ cú chẳng được gì vì cúng ma chứ ai cúng chim cú?

Người ta thường dùng câu này để tỏ ý phàn nàn rằng: chính mình có sáng kiến bày đặt ra, hoặc thúc đẩy cho người ra làm việc ấy, mà rồi người khác được hưởng lợi, chớ mình không được gì.

80. Của bụt mất một đền mười: Bụt tức Phật. Phật dạy người ta nên đem của ra bố thí cho mọi người để được phúc. Vậy mà ở đây, của Bụt mất có một phần, Bụt lại bắt đền những mười phần. Như vậy chả hóa ra Phật đã không bố thí cho ai mà lại còn tham lam nữa? Không câu này không nói ông Phật. Của bụt đây tức là của nhà sư, của nhà chùa, là nơi thờ Bụt. Và câu này chắc ban đầu đặt ra để chế riễu một vài nhà sư có thói tham lam. Ngày nay câu này thường được dùng theo nghĩa sau: Các bậc giàu sang quyền quí (ví với bụt) có thế lực to, nếu làm thiệt mất của cải các bậc ấy một phần, mình phải đền gấp mười lần thì mới khỏi lôi thôi.

81. Của đau con xót: Ai động đến của mình (tiền bạc đồ vật hay vật nuôi) thì mình cảm thấy đau lòng, khó chịu. Ai động đến con cái mình thì mình lấy làm thương xót, ý nói lòng dạ người ta, đối với con với của, ai cũng như ai.

82. Của kho không lo cũng hết: Của kho là của có hàng kho, ý nói nhiều lắm. Hoặc của nhiều như kho bạc nhà vua.

Không lo là không biết lo liệu tính toán cho của khỏi hao hụt hoặc mỗi ngày một sinh sản thêm ra. Đại ý câu trên dù có của hàng kho hoặc có của nhiều như kho nhà vua, mà không biết lo liệu tính toán, cứ vung tay quá trán, ăn tiêu phung phí, thì rồi cũng hết. Câu này khuyên ta phải biết lo liệu, tính toán để tiền của sinh sôi nẩy nở. Không biết lo chỉ biết tiêu, thì của như của kho cũng có ngày hết. Ý nghĩa cũng na ná ý nghĩa câu: ngồi ăn núi nở.

Cũng có nơi nói: “Ăn không lo của kho cũng hết”, nghĩa cũng như câu trên.

83. Của làm ăn no, của cho ăn đói: Của làm là thức ăn do nhà mình làm ra. Của cho là thức ăn do người ta đem cho. Ăn no tức ăn đến no, ăn chán, khi ấy ăn không biết ngon. Vì khi no thì ăn gì cũng không thấy ngon. Ăn đói là ăn thiếu, ăn thêm, ăn chưa thỏa thích, ăn cảm thấy ngon, vì khi đói thì ăn gì cũng ngon.

Câu này nghĩa là: thức ăn nhà làm ra thì ăn không ngon, vì nhà làm ra thì có nhiều, tha hồ ăn no, ăn chán; thức ăn người ta đem cho thì ăn bao nhiêu cũng ngon, vì của cho có ít, không có đâu mà ăn no ăn chán được.

Nghĩa bóng câu này muốn nói: phàm cái gì mình có sẵn thì mình hay coi thường, cái gì của người thì mình hay coi quí, có ý chê cái tính tham thanh chuộng lạ của người đời.

84. Của làm ra để trên gác, của cờ bạc để ngoài sân, của phù vân để ngoài ngõ: Của làm ra là của cải do mồ hôi nước mắt khó nhọc làm ra. Của cờ bạc là của cải, tiền bạc do đánh cờ bạc mà được. Của phù vân là của mây nổi, đây có nghĩa là của phi nghĩa, tức là của cải kiếm được một cách không chính đáng. Của phù vân có nghĩa ấy là do câu Khổng Tử chép trong sách Luận ngữ: “Bất nghĩa nhi phú thử quí ư ngã như phù vân”, nghĩa là: “Làm việc phi nghĩa mà giầu sang, đối với ta như đám mây nổi”.

Câu trên nghĩa là tiền của làm ra thì để trên gác, tức giữ được; tiền của do cờ bạc mà có thì không giữ chặt được, dù để trong rương, trong két cũng như để ở ngoài sân; tiền của kiếm được một cách phi nghĩa, tức là không đáng được mà được, thì cất kín đáo đến đâu cũng như để ở ngoài ngõ. Tóm lại, duy có tiền mồ hôi nước mắt kiếm ra là có thể giữ được chắc chắn.

Đại ý câu này khuyên người ta không nên ham cờ bạc và của phi nghĩa.

85. Của một đồng, công một nén: Một đồng đây tức là 1 đồng cân, hay một phần mười của một lạng ta. Nén tức là 10 lạng ta hay 100 đồng cân ta. Của một đồng, công một nén nghĩa là của (tức vật gì) chỉ đáng giá có 1 đồng cân, nhưng cái công mang từ xa xôi tới nó tốn kém những 10 lạng, ý nói công người đem cho đáng quí gấp trăm lần của đem cho.

Cũng có người giảng một đồng là một đồng tiền kẽm, một nén tức là một nén vàng, ý nói công và của giá trị chênh lệnh nhau một trời một bể.

Cũng có người cho một đồng là một đồng bạc, một nén hay 15 đồng bạc, vì 15 đồng “Con gái” hay “Hoa xoè” ngày trước, người ta bảo cân nặng 10 lạng tức là một nén.

86. Của người phúc ta: Dùng của người đem bố thí để lấy phúc lấy ở cho mình. Câu này chê mánh khoé của người khôn vặt.

87. Của người Bồ tát, của mình lạt buộc: Bồ tát là có lòng lành hay bố thí cho kẻ nghèo khó. Của người bồ tát là đem bố thí của người khác. Của mình lạt buộc là của mình thì giữ gìn chặt chẽ như lấy lạt mà buộc.

Câu này đại ý nói: chỉ phung phí của người còn của mình thì không chịu mất. Hoặc của người thường coi khinh, của mình thì coi quí báu không cho ai động đến.

88. Của ruộng đắp bờ: Lấy đất ở dưới ruộng đắp lên bờ ruộng. Bờ ruộng cũng là đất ruộng. Câu này lấy việc đắp bờ ruộng để nói bóng rằng: người ta có đứng ra lo liệu trông nom công việc cho cô dì chú bác (không có người trông nom), hay cho cháu chắt (mồ côi nhỏ tuổi), thì tiêu pha tốn kém cũng đều là tiền bạc của cô dì hoặc cháu chắt bỏ ra, mình chỉ mất công mà được tiếng.

89. Của thế gian đãi người ngoan thiên hạ: Đãi tức là thiết đãi, là cho hưởng thụ.

Người ngoan là người ngoan ngoãn, có đức hạnh, có lòng tử tế.

Của là của đời (thế gian) trong thiên hạ, hễ người nào có đức tốt thì được hưởng.

Cũng có nghĩa là mình đem của cải thiết đãi những người tốt bụng trong thiên hạ mà không tiếc, đâu phải riêng mình mãi mãi.

90. Cướp cháo lá đa: Cướp cháo để trong cái bồ đài bằng lá đa. Trong các lễ cúng bố thí cho cô hồn, người ta thường hay lấy lá đa gấp thành bồ đài, rồi đổ cháo vào đấy thay bát. Cướp cháo lá đa tức là cướp cháo thí với các cô hồn, ý nói người không có con cái lúc chết không ai thờ cúng, phải đi cướp cháo thí đổ trong lá đa mà ăn.

91. Cười ba tháng ai cười ba năm: Ở đời nếu ai làm việc xấu xa trái đạo thì bị thiên hạ chê cười. Vì sợ thiên hạ chê cười, mà người ta thường không dám làm những việc xấu xa quá đáng.

Có người liều lĩnh cứ làm theo ý muốn của mình, bất chấp cả sự chê cười của thiên hạ. Để bênh vực cho việc làm bậy bạ xấu xa của mình và cũng để tự an ủi mình, người ấy nói: Cười ba tháng ai cười ba năm mà sợ. Ý nói người ta chê cười trong một thời gian chán rồi thôi, chứ ai chê cười mãi mãi.

Câu này là lý luận của kẻ làm liều, bất chấp dư luận xã hội, và thường được dùng để an ủi những kẻ đã trót làm việc xấu xa.

92. Cưỡi đầu voi dữ: Cưỡi đầu voi là việc thường. Cưỡi đầu voi dữ là việc nguy hiểm. Ngồi trên đầu voi dữ, voi có thể lấy vòi lôi xuống mà quật. Mà tụt xuống đất không cưỡi nữa, voi cũng có thể lấy vòi cuốn, lấy chân dày xéo lên. Đằng nào cũng chết.

Người ta thường mượn câu này để nói cái địa vị nguy hiểm, tiến thoái lưỡng nan (tiến lên hay lùi về hai đàng đều khó không biết chọn đàng nào).

Tags: ,

No comments yet.

Leave a Reply

Bộ gõ AVIM-Reloaded